PodcastsTạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam
Latest episode

59 episodes

  • Việt Nam: Những thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng của đảng Cộng Sản

    26/01/2026
    Đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 14 đã kết thúc ngày 23/01/2026 sau khi Ban Chấp hành Trung ương "thống nhất tuyệt đối" bầu ông Tô Lâm tiếp tục giữ chức tổng bí thư. Ông Tô Lâm đã từng tuyên bố Đại hội Đảng lần này đánh dấu sự khởi đầu của một “kỷ nguyên mới”, với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành “một quốc gia hiện đại có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và một quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.” 
    Trong bài phát biểu khai mạc Đại hội hôm 20/01, tổng  bí thư Đảng cũng đã đề ra một mục tiêu đầy tham vọng : đạt mức tăng trưởng GDP hàng năm ít nhất 10% trong giai đoạn 2026-2030. Nhưng đó là những mục tiêu đầy thách thức đối với ban lãnh đạo mới của đảng Cộng Sản Việt Nam.
    Cải cách hành chính: Tác động tích cực và tiêu cực
    Nguyên là bộ trưởng Công An, ông Tô Lâm đã lên làm tổng bí thư sau khi ông Nguyễn Phú Trọng qua đời vào tháng 8/2024. Trong thời gian ngắn nắm quyền, ông đã đẩy nhanh các cải cách hành chính, cắt giảm số lượng bộ, ngành của chính phủ từ 30 xuống còn 22, giảm số lượng các đơn vị hành chính cấp tỉnh và thành phố từ 63 xuống chỉ còn 34.
    Trả lời RFI Việt ngữ ngày 21/01/206, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore, nhận định: 
    "Các cải cách này đã gây ra những tác động sâu rộng chưa từng có từ trước tới nay. Thứ nhất là về mặt tích cực, các biện pháp này giúp giảm bớt sự cồng kềnh của bộ máy hành chính, bộ máy Đảng và các cơ quan đoàn thể, qua đó giúp tăng hiệu quả quản lý nhà nước, cũng như tăng hiệu quả của công tác quản trị và xây dựng Đảng.
    Thứ hai, bộ máy được tinh gọn như vậy thì giúp nhà nước tiết kiệm được ngân sách để đầu tư vào các lĩnh vực phát triển, cũng như đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng, hay là đầu tư vào hệ thống phúc lợi cho người dân.
    Mặt tích cực thứ ba là việc tinh gọn guồng máy sẽ giúp tăng tính thích ứng trước những thay đổi nhanh chóng, tăng hiệu quả quản trị nhà nước và nâng cao năng lực của bộ máy chính trị và hành chính về lâu dài, qua đó giúp Việt Nam ngày càng ổn định, vững chắc hơn, cũng như có thể phát triển nhanh hơn trong thời gian tới.
    Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những mặt trái hay những rủi ro. Ví dụ như trong thời gian qua cũng có những phản ánh, những lời phàn nàn về sự đứt gãy, hay gián đoạn trong công tác quản trị, hay trong việc cung cấp một số dịch vụ công, do tình trạng thiếu nhân lực khi bộ máy bị tinh gọn. Nhiều cán bộ ở lại thì chưa được trang bị những kiến thức mới để đảm nhiệm các nhiệm vụ mới, do tình trạng thiếu trang thiết bị máy móc, hay do hệ thống công nghệ thông tin chưa được điều chỉnh hay cập nhật kịp thời để tương thích với cơ cấu bộ máy chính quyền mới. Tình trạng này cũng có thể ảnh hưởng tới phát triển kinh tế, vì như tôi được biết, việc cấp phép hoặc xét duyệt các dự án, hay là thông qua các giấy phép cho một số doanh nghiệp cũng bị đinh trệ.
    Một mặt tiêu cực khác, đó là xuất hiện sự bất mãn trong một bộ phận cán bộ. Những cán bộ này được ở lại, nhưng do những vấn đề như tôi đã nói trên, họ bị quá tải công việc. Bộ máy tinh gọn nhưng công việc thì không những không giảm mà có thể tăng lên. Đặc biệt là những cán bộ ở các tỉnh thành bị sát nhập mà trung tâm hành chính lại đặt ở tỉnh khác,  họ phải di chuyển rất xa đến nơi làm việc, họ phải sống xa vợ con gia đình nhiều ngày trong tuần.
    Trong số những người mà tôi đã phỏng vấn trong những chuyến tôi về Việt Nam, rất nhiều ý kiến cho rằng chủ trương sát nhập tỉnh thành hay tinh gọn bộ máy là cần thiết, nhưng những cải cách này đã được tiến hành một cách quá vội vàng, chưa cân nhắc thấu đáo các hậu quả. Đáng lẽ nó có thể được tiến hành theo từng giai đoạn, theo một trình tự, để bộ máy điều chỉnh kịp thời, thích nghi dần, rồi sau đấy mới đi tới các bước tiếp theo."
    Trong bài viết đăng trên trang mạng East Asia Forum ngày 10/01/2026, nhà nghiên cứu Alexander L. Vuving nhắc lại, dưới sự lãnh đạo của ông Tô Lâm, Bộ Chính Trị đã thông qua 4 nghị quyết từ cuối năm 2024 đến giữa năm 2025, vạch ra chiến lược để đạt được các mục tiêu đề ra. Các nghị quyết bao gồm đổi mới khoa học và công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. 
    Tuy nhiên, theo ông Alexander L. Vuving, “cách thức thực hiện các chính sách cụ thể lại gây ra nhiều tranh cãi. Việc tái cấu trúc lãnh thổ quy mô lớn đã được thực hiện mà không tôn trọng cấu trúc theo chiều ngang và bản sắc địa phương. Các quyết định quan trọng về phát triển kinh tế và cơ sở hạ tầng cũng được đưa ra mà không có sự tham vấn công chúng một cách thực chất, như quyết định xây dựng đường sắt cao tốc dọc bờ biển, xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân và đặt mục tiêu tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm 10% trở lên trong những thập kỷ tới.” 
    Phát triển kinh tế tư nhân: Chỉ có lợi cho các tập đoàn lớn
    Ông Tô Lâm xem khu vực tư nhân là một “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế Việt Nam, cho dù khu vực nhà nước vẫn giữ “vai trò chủ đạo”. Nhưng theo nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, chính sách thúc đẩy kinh tế tư nhân cho tới nay chủ yếu có lợi cho các tập đoàn lớn:
    "Từ khi ông Tô Lâm lên nắm quyền, chúng ta thấy là một số doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã phát triển rất nhanh, đã mở rộng rất nhanh, đặc biệt là một số các doanh nghiệp mà tôi cho rằng có quan hệ tốt với chính quyền, cụ thể là với bộ Công An, hay với những cơ quan liên quan tới an ninh, những tập đoàn như là Vingroup, Sun Group, Masterise Group hay TNT v.v....
    Trong khoảng hơn một năm qua, họ phát triển rất nhanh về số lượng dự án, rồi đầu tư vào các lĩnh vực mới. Điều này cho thấy rằng những doanh nghiệp đó đã ít nhiều được hưởng lợi từ chính sách tạo điều kiện cho lĩnh vực kinh tế tư nhân phát triển. Tuy nhiên, các chính sách này hầu như chỉ mang lại lợi ích cho một số tập đoàn lớn, mà chưa tạo ra được những lợi ích đồng đều, lan tỏa ra các doanh nghiệp khác.
    Những doanh nghiệp vừa và nhỏ thì chưa có được những  sự hỗ trợ cần thiết. Một số thành phần như kinh tế cá thể, kinh tế gia đình thì đang gặp rất nhiều khó khăn và thách thức. Họ là những bộ phận rất quan trọng tạo ra việc làm cho người dân, nhưng họ cũng đang tuân thủ các quy định về thuế, về hóa đơn, chứng từ..., khiến rất nhiều doanh nghiệp đóng cửa.
    Chính phủ Việt Nam phải cải cách pháp lý và chính sách để làm sao tạo ra được môi trường kinh doanh minh bạch và công bằng, không chỉ giúp các doanh nghiệp tư nhân lớn phát triển, mà có thể thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển theo. Thứ hai là cũng phải cải thiện cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân. Thứ ba là tạo thuận lợi cho việc tiếp cận tài chính và tín dụng, đặc biệt là cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. 
    Thứ tư là thời gian qua Việt Nam đã thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Trong thời gian tới, khía cạnh này cũng cần được tiếp tục thúc đẩy trong khu vực kinh tế tư nhân, không chỉ ở các doanh nghiệp lớn, mà còn ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, để họ có thể nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo đà để họ có thể phát triển ngày càng lớn mạnh, trở thành các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp quốc tế.
    Trong bài viết đăng trên mạng ngày 19/01/2026, nhật báo Mỹ The New York Times ghi nhận ông Tô Lâm được xem là một nhân vật “có thể tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho nhiều loại hình doanh nghiệp tư nhân”. Nhưng các nhà phân tích nhấn mạnh “đảng vẫn ưu tiên sự kiểm soát tập trung. Mặc dù có năng suất thấp, các công ty nhà nước vẫn được hưởng ưu đãi đặc biệt.” Đảng có kế hoạch xây dựng một mô hình mới cho tăng trưởng kinh tế, giảm bớt sự phụ thuộc vào lao động tay nghề thấp và dựa nhiều hơn vào khoa học và công nghệ. Theo The New York Times, “thách thức chính của Việt Nam là ở việc thực hiện các chính sách nhằm xây dựng một môi trường cởi mở hơn, hiệu quả hơn và cạnh tranh hơn. Về nội bộ, một mối nguy hiểm là sự tồn tại của một nhóm nhỏ các doanh nghiệp được nhà nước ưu ái với năng suất thấp.”
    Theo mô hình chaebol: Cần thiết, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro
    Bên cạnh việc nhìn nhận kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất, ông Tô Lâm còn có tham vọng phát triển những đại tập đoàn tư nhân theo kiểu các chaebol của Hàn Quốc. Nghị quyết 68 nêu rõ tham vọng của Việt Nam thúc đẩy sự phát triển 20 doanh nghiệp hàng đầu quốc gia vào năm 2030. Nhưng nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp đưa ra lời cảnh báo:
    "Điều quan trọng là chúng ta cần học hỏi các điểm tốt, nhưng phải tránh các mặt bất lợi, các mặt xấu. Điểm tốt từ mô hình chaeebol Việt Nam có thể học hỏi đó là tạo ra những cơ chế giúp các doanh nghiệp tư nhân có thể tập trung các nguồn lực và qua đó trở thành các tập đoàn lớn, có  sức cạnh tranh cao, không chỉ ở phạm vi trong nước, mà phạm vi quốc tế. Qua đó có thể giúp Việt Nam mở rộng tiềm lực kinh tế và ảnh hưởng của mình lên toàn cầu.
    Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp này phát triển như vậy thì nó cũng có những mặt trái. Ví dụ như ở Hàn Quốc, các chaebol nổi tiếng là có sự tham gia vào những mạng lưới chính trị và qua các mạng lưới này thì họ giành được các nguồn lực để phát triển. Tuy nhiên, đi kèm theo là tình trạng hối lộ, tham nhũng, hay các mối quan hệ thân hữu, qua đấy nó làm xói mòn niềm tin của công chúng vào chính quyền.
    Khi các doanh nghiệp này tận dụng những mối quan hệ với chính phủ để phát triển như vậy thì nó cũng bóp nghẹt sự cạnh tranh và khả năng sáng tạo, đặc biệt là  các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khi mà các chaebol của Hàn Quốc phát triển thì họ cũng phát triển một cách liều lĩnh, ví dụ như vay nợ quá mức để tham gia vào nhiều lĩnh vực phát triển đa ngành. Các chaebol Hàn Quốc đã là một phần nguyên nhân quan trọng của khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997.
    Một số mặt trái như vậy tôi thấy cũng đang xuất hiện ở một số tập đoàn tư nhân trong nước, cụ thể là vay nợ quá mức để theo đuổi các dự án rủi ro, không có hiệu quả cao về mặt kinh tế, không có tính bền vững về mặt tài chính. Tình trạng bóp nghẹt cạnh tranh ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang trở nên càng ngày càng phổ biến."
    Mục tiêu 10%: Tăng tốc quá nhanh?
    Mặt khác, đạt mức tăng trưởng từ 10% trở lên theo mục tiêu mà ông Tô Lâm đề ra, trong khi phải giảm sự phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài và đối phó với các rào cản thương mại sẽ là thử thách đối với Việt Nam trong những năm tới. 
    Tuần báo của Anh The Economist trong bài viết đăng ngày 08/01/2026, ghi nhận “nền kinh tế Việt Nam, nhờ xuất khẩu tăng mạnh, đã đạt mức tăng trưởng 8% trong năm 2025 – nhanh nhưng vẫn thấp hơn mục tiêu 8,3-8,5% của năm. Mặc dù mục tiêu 10% của năm nay có vẻ khó đạt được hơn, nhưng vẫn có lý do để lạc quan: Những cải cách lớn nhất của ông Lâm vẫn chưa phát huy hết tác dụng, trong đó có Nghị quyết 68, một nỗ lực nhằm thúc đẩy khu vực tư nhân bằng các biện pháp ưu đãi thuế và giảm bớt thủ tục hành chính. Các cơ quan quản lý đã được yêu cầu chấp nhận rủi ro cao hơn khi phê duyệt các dự án.”
    Vấn đề là theo The Economist, “hiện vẫn chưa rõ các tập đoàn lớn của Việt Nam sẽ chịu trách nhiệm như thế nào nếu họ không hoàn thành các dự án quan trọng. Một số tập đoàn ngại rủi ro nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước. Ví dụ, vào ngày 25/12 vừa qua, Vingroup đã rút khỏi dự án trị giá 67 tỷ đôla xây dựng tuyến đường sắt xuyên Việt Nam. Tập đoàn này đã yêu cầu 80% dự án được tài trợ bằng khoản vay không lãi suất từ ​​nhà nước, nhưng nhà nước đã từ chối. Các tập đoàn khác có thể sẽ thay Vingroup tham gia dự án, nhưng tình trạng tương tự vẫn sẽ tiếp diễn. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, dù gây ấn tượng mạnh, vẫn dễ bị ảnh hưởng bởi thái độ tùy hứng của một vài doanh nghiệp.”
    Về phần mình, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp e ngại là tăng tốc quá nhanh sẽ gây phản ứng ngược cho nền kinh tế Việt Nam: 
    "Chúng ta thấy là năm 2025 vừa qua Việt Nam cũng đã nỗ lực rất nhiều, nhưng chỉ đạt được mức tăng trưởng 8%. Thậm chí có nhiều người đặt câu hỏi liệu có phải là thực sự 8%, hay chỉ là một con số được "chế biến" để có thể đáp ứng được các mục tiêu chính trị của ban lãnh đạo.
    Tăng trưởng ít nhất 10% trong thời gian tới là một mục tiêu rất là thách thức. Việt Nam một hai năm trước chỉ đạt tăng trưởng 6 hay 7%. Bây giờ trong vòng một hai năm Việt Nam muốn tăng trưởng lên 10% thì tôi nghĩ rằng người ta đã đốt cháy giai đoạn ở một mức độ nào đấy. Muốn tăng tốc thì ta phải tăng tốc từ từ. Tôi sợ rằng trong thời gian tới, nếu Việt Nam quá nôn nóng để tăng trưởng và sử dụng các biện pháp không bền vững, không hiệu quả về lâu dài, thì có thể gặp sự cố, có thể là không phải ngay trong trước mắt 1, 2 năm tới, mà có thể là 3, 4 năm tới.
    Khi nền kinh tế phát triển quá nóng và dựa trên việc bơm tiền vào nền kinh tế, mà không dựa vào các biện pháp mang tính bền vững như phát triển khoa học công nghệ  hay đổi mới sáng tạo, nền kinh tế Việt Nam sẽ có thể gặp các vấn đề nghiêm trọng trong vòng 4 đến 5 năm tới.
    Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc rất nhiều vào đầu tư nước ngoài, nhưng trong bối cảnh môi trường địa chính trị toàn cầu gặp rất nhiều biến động như vậy, vốn đầu tư nước ngoài Việt Nam có thể bị chựng lại, thậm chí có thể giảm trong thời gian tới.
    Việt Nam cũng phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, đặc biệt là thương mại với Mỹ. Năm ngoái chúng ta thấy là thuế đối ứng chỉ bắt đầu được áp dụng vào nửa cuối năm, còn nửa đầu năm thì thuế đối ứng này chưa có tác động nhiều. Năm nay chúng ta sẽ thấy bức tranh toàn cảnh hơn về tác động của thuế đối với kinh tế Việt Nam. Trong trường hợp thuế đối ứng này làm giảm xuất khẩu Việt Nam, thì rõ ràng mục tiêu tăng trưởng 10% của Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng.
    Thứ ba là tiêu dùng cá nhân ở Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. Tiêu dùng chủ yếu vẫn tập trung ở một số bộ phận cư dân thu nhập cao ở thành thị. Còn rất nhiều gia đình đang thắt lưng buột bụng. Trong bối cảnh đấy, tiêu dùng khó có thể tăng trưởng mạnh để trở thành một động lực của nền kinh tế.
    Bên cạnh đấy, các động lực mới sẽ được ưu tiên phát triển trong cái thời gian tới, như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, hay phát triển doanh nghiệp tư nhân thì vẫn cần thời gian không chỉ một hai năm mà có lẽ lâu hơn mới có thể phát huy tác dụng, để trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong tương lai.
    Trong bối cảnh đấy thì có lẽ các đòn bẩy quan trọng nhất mà chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục sử dụng đấy là chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng, đặc biệt là thông qua đầu tư công, đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng để kích thích kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, biện pháp này đi kèm với mặt trái, đó là có thể dẫn tới giá tài sản tăng nhanh, dẫn tới bong bóng thị trường bất động sản, có thể đe dọa ổn định tài chính của Việt Nam và tạo ra những mầm móng bất ổn cho kinh tế Việt Nam trong lâu dài."
  • Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam XIV : Sự cân bằng quyền lực giữa công an và quân đội

    19/01/2026
    Đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ XIV diễn ra từ ngày 19 đến 25/01/2026 được nhấn mạnh là "Đại hội tiến vào kỷ nguyên mới". Những định hướng chính trị chính cho 5 năm tới được thông qua trong dịp này. Nhưng vấn đề được quan tâm nhất : Ai sẽ là tổng bí thư ?
    Tổng bí thư Tô Lâm, 68 tuổi, được cho là sẽ tiếp tục giữ chức vụ cao nhất trong Đảng thêm một nhiệm kỳ. Thậm chí, có thông tin tổng bí thư sẽ kiêm nhiệm chức chủ tịch nước, như mô hình của Trung Quốc, Bắc Triều Tiên… Trong trường hợp đó, mối quan hệ với bên quân đội sẽ như thế nào vì chủ tịch nước hiện nay là đại tướng quân đội Lương Cường ? Các nhà tân lãnh đạo Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức như thế nào trong bối cảnh chính trường quốc tế đầy biến động ?
    Giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt.
    RFI : Ngoại trưởng Lê Hoài Trung nhấn mạnh Đại hội Đảng lần thứ XIV là "sự kiện mang ý nghĩa bước ngoặt, là dấu mốc đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển đất nước". Vậy thách thức trong 5 năm tới đối với ban lãnh đạo mới là gì ? 
    Benoît de Tréglodé : Nói là "Thời điểm bước ngoặt" ư ? Đời sống chính trị của chế độ Việt Nam được chi phối bởi chu kỳ các Đại hội đảng Cộng sản Việt Nam. Thời điểm năm 2026 này cũng không then chốt hơn thời điểm cách đây 5 năm, vào năm 2021. Rõ ràng đây là những mốc thời gian, lần nào cũng thực sự quan trọng khi đưa đời sống chính trị Việt Nam trở lại chu trình liên tục, không gián đoạn. Đây là những yếu tố giữ cân bằng đời sống chính trị Việt Nam.
    Đọc thêmViệt Nam trước Đại hội Đảng: Yếu tố Trung Quốc và lá bài Hoa Kỳ
    Điều thú vị là trong nhiệm kỳ này có hai ngày trọng đại, đánh dấu khởi đầu và gần như kết thúc nhiệm kỳ. Những ngày kỷ niệm luôn rất quan trọng để hiểu được vị trí trung tâm của một chế độ và các nhà lãnh đạo. Việt Nam của nhiệm kỳ thứ XIV sẽ bắt đầu bằng sự kiện kỷ niệm có ý nghĩa nền tảng đối với ông Tô Lâm, cũng như với toàn bộ giới lãnh đạo chính trị đất nước : Đó là kỷ niệm 40 năm Đổi Mới. Khẳng định nền tảng và định hướng kinh tế của đất nước thông qua một lễ kỷ niệm đánh dấu thời kỳ mở cửa kinh tế là một biểu tượng không thể quan trọng hơn đối với một đất nước đang đặt việc theo đuổi phát triển và tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm trong mọi tham vọng và dự án của mình.
    Lễ kỷ niệm thứ hai, rất quan trọng, đánh dấu cho nhiệm kỳ này, đó là việc tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng 1930-2030. Và đây cũng là trách nhiệm của ban lãnh đạo sẽ được bầu chọn vào cuối tuần.
    Trong cả hai trường hợp, chúng ta đều đề cập tới hai trụ cột, hai nền tảng cơ bản của hệ thống Việt Nam hiện nay. Đó là sự tiếp nối của chính sách kinh tế đầy tham vọng về tăng trưởng và mở cửa. Ở điểm này, tôi tin là sẽ không có bất kỳ sự thay đổi hay điều chỉnh nào.
    Việt Nam đã khẳng định vị thế vững chắc trong khu vực và trên trường quốc tế. Việc này phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Và Đảng lại tìm thấy ở đó cơ sở cho tính hợp pháp và duy trì thế độc quyền của mình.
    Việc một nước Việt Nam có mức tăng trưởng 8% hàng năm củng cố đáng kể vị thế của Đảng trong xã hội Việt Nam và trên trường quốc tế.
    Đọc thêmMột mình tiếp tổng thống Mỹ, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam
    Về trụ cột thứ hai, đội ngũ lãnh đạo mới, được lựa chọn vào cuối kỳ Đại hội, sẽ nhắc lại hơn bao giờ hết rằng vai trò của người tổ chức, của người lãnh đạo tối cao của đảng Cộng Sản Việt Nam, sẽ tuyệt đối không được thay đổi và phải bằng mọi giá củng cố chiến lược thực dụng, thực tế về kinh tế của đất nước.
    RFI : Chúng ta đã nhắc đến những thách thức, những tham vọng về kinh tế, và trong bối cảnh những thay đổi toàn cầu, các nhà tân lãnh đạo của đất nước, đặc biệt là tổng bí thư cần phải có những kỹ năng, phẩm chất nào và phải đáp ứng những điều kiện gì để có thể thành công ?
    Benoît de Tréglodé : Câu hỏi này khá phức tạp, không thể tóm gọn trong vài điểm. Phẩm chất quan trọng nhất của một tổng bí thư đảng là từng giữ chức tổng bí thư và sở hữu kiến ​​thức cũng như mạng lưới quan hệ cần thiết để duy trì vị trí, và từ vị trí đó có thể bảo đảm sự liên tục của chính sách quốc gia.
    Vào đúng ngày khai mạc Đại hội Đảng XIV và chỉ bốn đến năm ngày trước khi diễn ra các phiên thảo luận cuối cùng, thì cũng không phải là không thể đưa ra một số giả định. Các nhà phân tích đã bàn luận về vấn đề này trong vài tuần qua. Rất có thể tổng bí thư đương nhiệm muốn tiếp tục tại vị. Và tin đồn còn đi xa hơn khi cho rằng ông Tô Lâm dường như muốn mở rộng vai trò và phạm vi chức năng bằng cách kiêm nhiệm thêm chức chủ tịch nước. Đây là điều không có gì đặc biệt ở Việt Nam, đã từng xảy ra và không phải là hiếm gặp ở các quốc gia khác có hệ thống chính trị tương tự. Ví dụ Trung Quốc và vai trò của Tập Cận Bình trong việc hoạch định cả chính sách đối nội lẫn đối ngoại.
    Đọc thêmViệt Nam : “Quốc tế hóa” vai trò của tổng bí thư đảng Cộng Sản
    Một điều thú vị khác cần lưu ý, cho dù không muốn đi trước thời gian biểu của đại hội cũng như thời điểm công bố các quyết định vào cuối tuần này, là trên thực tế, 18 tháng đầu cầm quyền của ông Tô Lâm cho thấy tổng bí thư đương nhiệm đã can thiệp rất tích cực và quyết liệt vào cả chính sách đối nội, lẫn đối ngoại. Do đó, có thể nói rằng phạm vi hoạt động của hai lĩnh vực này đã được cùng một cá nhân khai thác triệt để. Vì vậy, xin nhắc lại là không phải là không thể dự đoán được quyết định được đưa ra vào cuối tuần này.
    RFI : Nếu hai vị trí cao nhất được sáp nhập, việc này sẽ tác động như thế nào đối với bên quân đội trong “ngũ trụ”, sắp tới có thể là “tứ trụ” ?
    Benoît de Tréglodé : Điều đầu tiên tôi nghĩ đến là việc phân chia sẽ như thế nào.
    Nói một cách khái quát, ông Tô Lâm sẽ để lại chút ít gì cho quân đội nếu họ không muốn làm mất mặt quân đội. Nhưng tôi nghĩ quân đội sẽ mất khá nhiều ; họ đã mất khá nhiều nếu việc sáp nhập này diễn ra. Nhưng trong nội bộ Bộ Chính Trị, chuyện sẽ diễn ra như thế nào đối với bên quân đội ? Đây là việc rất quan trọng.
    Việc sáp nhập hai vị trí tổng bí thư và chủ tịch nước là một vấn đề rất phức tạp nhìn từ góc độ Hiến Pháp. Chủ tịch nước Việt Nam là người đứng đầu lực lượng vũ trang và, theo một cách nào đó, cũng là người đứng đầu Ủy ban Quốc phòng và An ninh. Vì vậy, từ góc độ đó, việc không còn trao chức chủ tịch nước cho một sĩ quan quân đội, mà lại tự cho mình nắm giữ chức vụ đó, đã đặt ra nhiều vấn đề gây khó khăn cho bộ trưởng Quốc Phòng đương nhiệm trong việc đàm phán. Xin nhắc lại là năm 2025, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII được khai mạc vào đúng ngày mang tính biểu tượng, ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12.
    Đọc thêmHà Nội căng thẳng trước thềm đại hội đảng : Quân đội có cản bước cải cách của ông Tô Lâm?
    Vấn đề thực sự quan trọng trong đại hội lần này là nếu ông Tô Lâm quyết định giữ cả hai vị trí này thì ông cũng tránh gây tổn hại không đáng có cho Quân đội Việt Nam và các đại diện của Quân đội, trong trường hợp hiện nay là bộ trưởng bộ Quốc Phòng. Hiện tại vẫn còn hơi sớm để thảo luận về quyết định này vì chúng ta chưa biết kết quả, mà phải chờ tới cuối Đại hội Đảng XIV.
    Nhưng giả sử có sự phân bổ quyền lực này và nhìn từ quan điểm cá nhân, ông Tô Lâm với tư cách là tổng bí thư, người có thể nắm giữ cả hai vị trí, và ông Tô Lâm với tư cách là tướng Công an với bộ Công An cùng với mạng lưới đằng sau, chuyện này sẽ diễn ra như thế nào trong mối quan hệ với Quân đội và bộ Quốc Phòng, một trụ cột khác của bộ máy an ninh và quyền lực Việt Nam ? Sự cân bằng giữa hai chủ thể an ninh vô cùng lớn này, mà chúng ta không nên quên hiện đã trở thành các chủ thể chính trị và kinh tế, là cốt lõi của tương lai chế độ chính trị Việt Nam.
    RFI : Cuộc cải cách hành chính năm 2025 cũng có những tác động nhất định đến vai trò của tổng bí thư ?
    Benoît de Tréglodé : Tổng bí thư Tô Lâm - người biết rằng ông thực sự không có đối thủ nào trong bộ máy thể chế Việt Nam và cũng biết rằng sự nổi tiếng của ông có thể biến động theo thời gian và bằng cách cố nắm bắt, thực hiện một bước đi quan trọng để tận dụng lợi thế của việc sáp nhập tiềm năng và quyền lực gần như tùy ý trong bộ máy Nhà nước Việt Nam - sẽ cần các công cụ hiến pháp giúp ông tiến lên, cho phép ông thi hành các quyết định của mình. Trong một chế độ mà Việt Nam gọi là "nền dân chủ nhân dân", các quyết định không phải do một người đưa ra mà phải được một bộ máy phê chuẩn, trong trường hợp này là Quốc Hội và các cơ quan khác. Do đó, tự do của ông Tô Lâm cũng phụ thuộc vào đa số mà ông sẽ có trong bộ Chính Trị, và đa số này cũng phụ thuộc vào đa số mà ông sẽ có trong Ban Chấp hành Trung ương.
    Vì vậy nếu ông Tô Lâm thực sự theo đuổi hoạt động chính trị ở Việt Nam, ông cần có một Ban Chấp hành Trung ương ủng hộ ông, một Bộ Chính Trị ủng hộ ông và một Quốc Hội thông qua các quyết định của ông.
    Trong mọi trường hợp đó, cải cách hành chính đều có tác động, đều có những hệ quả đối với cơ cấu của các cơ quan ra quyết định quan trọng ở Việt Nam. Cho nên có thể hiểu rằng việc thực hiện cải cách hành chính năm 2025 cũng liên quan trực tiếp đến mong muốn của người khởi xướng là có được những cơ quan nắm giữ quyền lực chính trị quan trọng ở Việt Nam đứng sau ông và xác nhận các hành động của ông.
    Đọc thêmQuyền lực cá nhân tổng bí thư thông qua quá trình tinh giản bộ máy hành chính ở Việt Nam
    RFI : Sau Đại hội, công cuộc chiến chống tham nhũng sẽ được tiếp tục thực hiện ? Và liệu có quyết liệt như đang làm hiện nay không ?
    Benoît de Tréglodé : Cần phải nhắc lại rằng tham nhũng là một vấn đề còn lâu mới giải quyết được và không phụ thuộc vào chu kỳ 5 năm của các Đại hội Đảng.
    Tham nhũng gắn liền mật thiết với khái niệm phát triển kinh tế. Và tham nhũng cũng gắn liền mật thiết với cách hoạt động và tài trợ của bộ máy hành chính. Sự phát triển kinh tế ở hầu hết các nước châu Á đều bao gồm, hoặc đi kèm với sự gia tăng các hành vi tham nhũng khá phổ biến.
    Vì vậy, không nên cố gắng đưa việc chấm dứt, kết thúc hoặc tiếp tục các chiến dịch chống tham nhũng vào chương trình nghị sự của mỗi Đại hội Đảng.
    Đọc thêmChống tham nhũng thời hậu Nguyễn Phú Trọng: Sẽ vẫn "diệt chuột không để vỡ bình"
    Tham nhũng đã, đang và sẽ tiếp tục xảy ra, điều đó là chắc chắn. Và mọi chuyện sẽ không sớm dừng lại nay mai. Năm 2025 được đánh dấu bởi cuộc cải cách hành chính của ông Tô Lâm, với tham vọng đơn giản hóa và hiện đại hóa bộ máy Nhà nước, và cũng bao gồm cả tham vọng hạn chế số lượng các trung gian tại các cơ quan chính phủ, vốn luôn là cơ hội nảy sinh các hành vi tham nhũng ở Việt Nam.
    Bản thân cuộc cải cách hành chính này đã bao hàm mong muốn hạn chế những hành vi lạm dụng hoặc tham nhũng. Cải cách này lại cũng diễn ra vào thời điểm thuận lợi, chỉ một năm trước Đại hội Đảng, còn rõ ràng mang tham vọng tái xác định vị trí hoặc tái tập trung quyền lực chính trị ở Việt Nam xung quanh Đảng và người khởi xướng cải cách.
    Vì vậy, rõ ràng là nhìn từ góc độ này, cuộc cải cách hành chính còn mang một chiều hướng chính trị rất rõ rệt : vừa hiện đại hóa bộ máy về mặt chức năng, vừa thâu tóm bộ máy về mặt chính trị.
    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp.
  • Dự án nhà máy hạt nhân: Nhật Bản rút đi, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu về điện nguyên tử

    12/01/2026
    Nhu cầu tiêu thụ điện của ngành công nghiệp Việt Nam, nơi đặt cơ sở sản xuất của nhiều tập đoàn đa quốc gia như Samsung và Apple, thường xuyên vượt quá nguồn cung, vốn bị ảnh hưởng bởi thời tiết cực đoan ngày càng thường xuyên, như hạn hán và mưa bão.
    Trước tình hình này, Việt Nam muốn tăng sản lượng điện từ nhiều nguồn, chủ yếu là năng lượng tái tạo và khí đốt, nhưng các dự án đã bị chậm trễ và gặp trắc trở do các vấn đề quy định và giá cả, cho nên nay rất trông chờ vào điện hạt nhân.
    Sau khi quyết định khởi động lại chương trình năng lượng hạt nhân vào năm ngoái, Việt Nam đã giao cho Nga thực hiện dự án Ninh Thuận 1 và Nhật Bản thực hiện dự án Ninh Thuận 2. Vào đầu tháng 12 vừa qua, chính phủ Việt Nam vừa phê duyệt danh mục các công trình và dự án được xếp vào nhóm quan trọng quốc gia, trọng điểm của ngành năng lượng, trong đó có dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, 2 tại Khánh Hòa. Theo lộ trình của chính phủ, 2 nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2 tại Khánh Hòa, công suất 2.000-3.200MW, dự kiến sẽ được đưa vào hoạt động trong giai đoạn 2030-2035.
    Thế nhưng, chỉ vài ngày sau, Nhật Bản, một trong hai đối tác mà Việt Nam đã chọn, lại thông báo rút khỏi dự án hạt nhân. Hôm 08/12/2025, đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Naoki Ito nói với hãng tin Anh Reuters rằng Nhật Bản đã rút khỏi kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân quy mô lớn tại Việt Nam “vì thời gian quá gấp rút”.
    Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 16/12/2025, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt, giải thích:
    "Thông tin mà đại sứ Nhật ở Việt Nam nêu ra tóm tắt là như thế này: Đấy là những  công trình rất là lớn và tiêu chuẩn an toàn của nó thì càng ngày càng cao, mà Việt Nam đặt thời hạn quá gấp, tức là muốn năm 2035 phải xong. Ông ấy cho là không khả thi.
    Tôi thấy cũng đúng thôi: Đấy là loại lò thế hệ III+, tức là có trang bị các thiết bị chống lại mất an toàn bằng phương pháp thụ động. Trong thời gian gần đây, các lò có công suất tương đương như thế được xây ở Mỹ , ở Phần Lan, ở Trung Quốc, đặc biệt ở Bangladesh, do Nga giúp xây dựng.
    Công trình rất lớn và rất phức tạp, đòi hỏi tiêu chuẩn an toàn cao, nhưng Việt Nam lại yêu cầu là năm 2035 phải xong, thậm chí Việt Nam còn có một yêu cầu khác, tức là trong quá trình xây dựng lò như thế thì phải có chuyển giao công nghệ. Những điều đó là Nhật không thể thực hiện được. Nhật còn nói thêm là bây giờ, sau vụ Fukushima, hiện nay là ở Nhật cũng có những đòi hỏi về xây các lò phản ứng mới. Do đó họ không đủ khả năng để làm theo yêu cầu của Việt Nam.
    Căn cứ trên kết quả xây các lò loại thế hệ III + ở các nước thì đều hoặc là trễ tiến độ, hoặc là đội giá thành lên gấp một vài lần. Ở Bangladesh chẳng hạn, công trình do Nga trực tiếp làm đáng lý ra phải được đưa vào vận hành năm 2023, nhưng đã trễ sang năm 2024, rồi lùi sang năm 2025 và bây giờ phải đến tháng 12/26 may ra mới có thể vận hành được. Như thế rõ ràng việc xây dựng các lò lớn như thế hiện nay là một vấn đề rất khó khăn."
    Quyết định của Tokyo có thể làm phức tạp thêm chiến lược dài hạn của Việt Nam phát triển điện hạt nhân nhằm tránh tình trạng thiếu điện. Nói cách khác, Việt Nam khó mà đạt mục tiêu về thời hạn đặt ra cho 2 dự án nhà máy hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2: 
    "Bây giờ Nhật Bản từ chối, như thế là Việt Nam cũng sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện các mục tiêu lớn của Việt Nam: phải có điện là một, điện sạch là hai và ngoài ra đến năm 2050 phải đạt trung hòa carbon. Những mục tiêu đó là rất là khó đạt.
    Nhưng đại sứ Nhật cũng có nói Nhật mở ra một khả năng, tức là sẽ tham gia phát triển các công nghệ lò gọi là lò module, có thể lắp ghép được, gọi là SMR, công suất  khoảng vài trăm megawatt. Nhật Bản sẽ hợp tác với Việt Nam trong các dự án đó."
    Sau khi Nhật Bản rút khỏi dự án Ninh Thuận 2, phía Nga đã trấn an là họ sẽ không bỏ rơi Việt Nam. Theo báo chí trong nước, trong cuộc điện đàm ngày 11/12 với thủ tướng Phạm Minh Chính, tổng giám đốc Tập đoàn Rosatom của Nga đã cam kết hợp tác với Việt Nam "xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 theo công nghệ hiện đại nhất."
    Tuy nhiên, theo giáo sư Phạm Duy Hiển, cũng không chắc là Nga có thể làm theo đúng tiến độ như mục tiêu mà Việt Nam đề ra
    "Nga thì quyết tâm làm, khác với Nhật Bản. Họ còn có một chương trình hợp tác với Việt Nam rộng rãi hơn, bao gồm việc xây dựng trung tâm phát triển hạt nhân với lò phản ứng 10 MW và một số chuyện nữa liên quan đến nhiên liệu của trung tâm Đà Lạt. Đó là một dự án có thể nói là tổng hợp nhiều thứ và do đó việc họ phải làm dự án Ninh Thuận 1 là điều chắc chắn.
    Thế còn họ làm được đến mức nào thì như tôi nói khi nãy, căn cứ theo cái mà họ làm với Bangladesh thì thấy là trễ tiến độ khoảng hơn 7 năm. Cho nên nếu mà Việt Nam có làm, thì phải có những cọc mốc. Những cái cọc mốc đó rất là quan trọng, ví dụ như phải ký kết giữa hai bên, cam kết là nước Nga sẽ xây nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và cung cấp đủ tài chính để làm dự án. Cho đến bây giờ vẫn chưa thấy cọc mốc đó. Sau khi hai bên chính thức ký kết, có tiền bạc  đủ rồi, tôi nghĩ ít nhất phải hơn 10 năm thì mới có thể hoàn thành được.
    Cho nên khả năng hoàn tất dự án vào năm 2035 đối với Nga cũng là không dễ. Tuy Nga chưa nói cụ thể hạn định nào,ví dụ như là bao giờ đổ mẻ bê tông đầu tiên để mà xây nhà lò , sau đó ít nhất là 7 năm, 8 năm thì mới hoàn thành. Bây giờ cho đến lúc đổ bê tông đầu tiên chưa thấy con đường đi như thế nào cả.
    Các nhà lãnh đạo Việt Nam có những kế hoạch, có những mục tiêu muốn đặt ra. Đối với một số công trình cổ điển thì có thể đặt kế hoạch năm này năm khác được, còn loại công trình này Việt Nam chưa hề có những trải nghiệm nào cả. Với kinh nghiệm trong những năm gần đây về xây các lò công suất lớn ở nhiều nước, kể cả những nước tư bản hiện đại, tôi cho rằng con đường đó sẽ không tồn tại lâu được.
    Những lò công suất trung bình, công suất bé có thể là giải pháp tổng thể cho bài toán điện hạt nhân của nhiều nước. Và nó cũng thích hợp với Việt Nam trong nhiều mặt, tức là về vấn đề chọn địa điểm, vấn đề vốn, vân vân... Có điều hiện nay chưa có nước nào đưa ra một lò thương mại hóa cho toàn thế giới cả. Mọi người đều có ý kiến là có thể loại lò đó sẽ chỉ được thương mại hóa sau năm 2030. Tôi nghĩ cũng có lý."
    Với sự chậm trễ trong các dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân, Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thiếu điện trầm trọng và phải gấp rút tìm những nguồn năng lượng bổ sung, theo giáo sư Phạm Duy Hiển:
    "Tôi nghĩ là điều đó cần phải đem ra bàn bạc và đó là một nguy cơ có thể có. Hai nhà máy điện Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 đóng góp công suất rất lớn, mà bây giờ một nhà máy dứt khoát là không có rồi, cho nên là Việt Nam trong tương lai cho đến những năm 2040 là sẽ thiếu điện.
    Bây giờ trở lại dùng than thì khó .May ra hiện nay có một triển vọng là phát triển một số mỏ khí. Có những thông tin như vậy và cũng khá chắc chắn, thậm chí người ta cũng đã nói đến đường dẫn ống khí về đất liền. Tôi hy vọng đó là một nguồn có thể thay thế, nhưng cũng phải chờ những thông báo chính thức. Nếu không có những nguồn khí như vậy thì rõ ràng là Việt Nam phải đặt vấn đề lấy đâu ra nguồn để thay thế ít nhất là một nhà máy của Nhật sẽ không đưa vào hoạt động."
    Theo nguồn tin mà giáo sư Phạm Duy Hiển có được, Hàn Quốc đã chính thức nhận xây nhà máy điện hạt nhân thứ hai, thay chỗ của Nhật Bản và hiện "đang vào cuộc nhanh chóng". Tuy nhiên, hiện thông tin này chưa được chính thức xác nhận. 
    Trong cuộc họp ngày 07/01 vừa qua, thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính đã bày tỏ quan ngại về sự chậm trễ trong dự án nhà máy hạt nhân, "tiến độ công việc chưa được như mong muốn, có nhiều vướng mắc phải tháo gỡ ngay như công tác đàm phán hiệp định hợp tác còn chậm, phụ thuộc nhiều vào các đối tác nước ngoài; bố trí vốn cho giải phóng mặt bằng…"
    Ông Phạm Minh Chính giao cho bộ Công Thương và bộ Ngoại Giao trong tháng 1/2026 phải kết thúc đàm phán với phía Nga về hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Đồng thời thủ tướng Việt Nam thúc giục tập đoàn Petrovietnam, bộ Công Thương, Bộ Ngoại Giao đề xuất lựa chọn thay thế Nhật Bản một đối tác mới "có công nghệ nguồn tiên tiến phù hợp với tình hình mới" để hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2.
    Nhưng có vẻ như Việt Nam không có lựa chọn nào khác ngoài việc phát triển các lò phản ứng hạt nhân kiểu module. Theo Nghị quyết phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, được Quốc Hội Việt Nam thông qua, có hiệu lực từ ngày 1.3.2026, chính phủ được giao ban hành cơ chế đầu tư phát triển điện hạt nhân (ĐHN) module nhỏ (SMR) "theo từng thời kỳ, căn cứ nhu cầu và tình hình thương mại hóa công nghệ và đảm bảo an ninh, an toàn hạt nhân".
  • Mỹ trở lại Đông Nam Á: ASEAN và Việt Nam có giữ được cân bằng an ninh với Trung Quốc?

    05/01/2026
    Tháng 10/2025, tổng thống Mỹ Donald Trump đến Kuala Lumpur, Malaysia, họp thượng đỉnh với các nước ASEAN nhằm trấn an đồng minh, đối tác. Hoa Kỳ đã ký nhiều thỏa thuận, cam kết liên quan đến an ninh với Việt Nam, Malaysia, Philippines, Cam Bốt. Liệu Đông Nam Á lại trở thành tâm điểm trong chính sách đối ngoại của Mỹ năm 2026 ?
    Tại sao Washington lại tái khẳng định hiện diện mạnh mẽ hơn ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở Biển Đông, trong thời điểm này ? Liệu những cam kết như vậy có lợi cho Việt Nam không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon, tại Viện Đông Á (Institut d’Asie orientale), Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp.
    RFI : Việc Hoa Kỳ trở lại hội nghị thượng đỉnh châu Á gửi đi một tín hiệu chính trị mạnh mẽ. Washington thực sự đang tìm kiếm điều gì thông qua việc tái khẳng định sự hiện diện của họ ở Đông Nam Á này ?
    Laurent Gédéon : Đúng là Pete Hegseth đã đến Kuala Lumpur ngày 30/10/2025 để tham dự cuộc họp của các bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng. Có thể thấy rõ Mỹ muốn tận dụng cơ hội này để tái khởi động mối quan hệ với ba kiểu quốc gia : Trung Quốc ; các nước trong khu vực có quan hệ tốt nhưng không mang tính chiến lược ; các nước có mối liên hệ chặt chẽ với Mỹ về quốc phòng.
    Ông Hegseth đã gặp bộ trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Đổng Quân để thảo luận về việc nối lại các cuộc trao đổi quân sự trực tiếp giữa Washington và Bắc Kinh, nhưng cũng chia sẻ những lo ngại của Mỹ về hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông và xung quanh Đài Loan. Thông qua cuộc gặp với người đồng cấp Trung Quốc, bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ muốn tái khẳng định cam kết của Washington về hai vấn đề này. Rất có thể là việc tỏ thái độ kiên quyết đó chủ yếu nhằm mục đích trấn an các bên khác tham dự hội cấp cao về quyết tâm của Washington.
    Ngoài ra, ông Hegseth cũng đã tận dụng cơ hội đó để ký nhiều thỏa thuận quân sự với ba quốc gia trong khu vực. Trước tiên là với Philippines, ông Hegseth gặp bộ trưởng Quốc Phòng Philippines và tuyên bố thành lập Lực lượng Đặc nhiệm Philippines (Task Force-Philippines). Đây là một sáng kiến ​​chung nhằm cải thiện sự hợp tác và khả năng tương tác giữa Mỹ và Philippines trong trường hợp khẩn cấp ở Biển Đông và các khu vực khác.
    Đọc thêmMỹ và Malaysia củng cố hợp tác quốc phòng ở Biển Đông để đối phó với "chiến thuật vùng xám"
    Với Malaysia, ông Hegseth đã họp với bộ trưởng Quốc Phòng Mohamed Khaled Nordin. Hai bên đã ký một bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng, công bố gia hạn thỏa thuận chung về mua sắm thiết bị quân sự và hỗ trợ nhau. Và cuối cùng, với Cam Bốt, ông và người đồng cấp Cam Bốt đã tuyên bố nối lại cuộc tập trận chung thường niên, vốn bị đình chỉ từ năm 2017. Hai bên cũng đề cập đến khả năng một tàu chiến của Mỹ đến thăm Căn cứ Hải quân Ream ở Cam Bốt. Căn cứ này được Trung Quốc hỗ trợ hiện đại hóa và lực lượng Trung Quốc được hưởng quyền tiếp cận đặc biệt.
    Tất cả những yếu tố này, bao gồm cả cuộc gặp với bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam, đều thể hiện rõ mong muốn tái đầu tư của Mỹ vào khu vực và, thông qua các thỏa thuận này, mong muốn tích hợp một số nước trong khu vực vào một cấu trúc an ninh trong tương lai mà phần nào có thể nhắm đến Trung Quốc.
    RFI : “Nước Mỹ trên hết không có nghĩa là Nước Mỹ đơn độc”. Ông Hegseth tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ đối với khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Điều này đã được thể hiện qua quan hệ đối tác an ninh giữa Mỹ với Malaysia và với Philippines, như ông đã giải thích. Liệu sự trở lại ấn tượng như vậy có thuyết phục được các nước ASEAN và có lợi cho họ không, khi mà những nước này không hề nhắc đích danh Bắc Kinh trong những lời chỉ trích về hành động gây bất ổn của Trung Quốc ?
    Laurent Gédéon : Đúng vậy, không gian hàng hải đã được nhấn mạnh thành trọng tâm bởi vì trong tuyên bố ngày 01/11/2025, ông Hegseth nói : 
    Chúng tôi đang thực hiện nguyên tắc “Nước Mỹ trên hết”. Nhưng “Nước Mỹ trên hết” không có nghĩa là chỉ riêng nước Mỹ. Nó có nghĩa là cùng với các đồng minh và đối tác của chúng tôi, những bên có khả năng duy trì an ninh, ổn định, tự do hàng hải và cuối cùng là hòa bình.
    Mặc dù các nước ASEAN không nêu đích danh Trung Quốc, nhưng Bắc Kinh đã được bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ nhắc đến rất nhiều. Ví dụ, trong cuộc họp không chính thức, ông Hegseth đã cảnh báo các bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN về mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra cho chủ quyền của nước họ. Ông nói : 
    Hành động của Trung Quốc là một lời cảnh tỉnh... Các hành động khiêu khích của Trung Quốc cũng thể hiện sự thiếu tôn trọng đối với đất nước của quý vị, thách thức và đe dọa chủ quyền lãnh thổ của đất nước quý vị.
    Ông Hegseth tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ trong việc duy trì một khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương an toàn và ổn định. Ông cũng cổ vũ sự hợp tác giữa Mỹ và ASEAN để phát triển nhận thức tình hình hàng hải chung, đặc biệt là ở Biển Đông. Đây là điểm quan trọng. Thêm vào đó, ngày 09/09, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ đã nói với người đồng cấp Trung Quốc Đổng Quân rằng Mỹ có những lợi ích sống còn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, mà Washington coi là một khu vực hoạt động ưu tiên, và Mỹ sẽ kiên quyết bảo vệ những lợi ích đó.
    Tuy nhiên, có thể nhận thấy cho dù Mỹ thể hiện quyết đoán, có lập trường vững chắc như vậy, các quốc gia trong khu vực vẫn còn khá lưỡng lự về mức độ cam kết của Washington đối với các vấn đề như Biển Đông và Đài Loan. Thái độ lưỡng lự này được thôi thúc bởi điều được gọi là “sự mơ hồ chiến lược” của Mỹ, khi Washington không nêu rõ là sẽ tham gia hay không, hoặc là họ sẽ tham gia như thế nào vào một cuộc xung đột công khai với Trung Quốc.
    RFI : Sự trở lại của Mỹ, hay nói đúng hơn là sự tăng cường cam kết của Mỹ đối với khu vực có thể sẽ mang lại lợi ích như thế nào cho Việt Nam ?
    Laurent Gédéon : Tôi nghĩ rằng bất kỳ sự tái đầu tư nào của Mỹ vào khu vực, nếu không dẫn đến xung đột trực tiếp với Trung Quốc, đều chỉ có lợi cho Việt Nam, vì nó củng cố cán cân chiến lược khu vực và giảm bớt quan hệ bất đối xứng với Trung Quốc, ngay cả khi không có thỏa thuận quân sự chính thức giữa Hà Nội và Washington.
    Đọc thêmBiển Đông, Trung Quốc : Việt Nam cần đề phòng khả năng Trump "rũ áo" như với Ukraina?
    Do đó, chắc chắn rằng lập trường kiên quyết của ông Hegseth, đặc biệt là về Biển Đông, chỉ có thể được Hà Nội hoan nghênh vì nó phù hợp với các tuyên bố và yêu cầu của Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn tồn đọng một sự bất trắc chiến lược, đặc biệt là về ý muốn thực sự của Mỹ trong việc ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc bằng vũ lực nếu tình hình đòi hỏi.
    Điểm bất trắc thứ hai liên quan đến kết quả của một cuộc đối đầu tiềm tàng giữa Trung Quốc và Mỹ. Các kịch bản được thảo ra cho kết quả khác nhau, và không phải tất cả đều cho rằng lực lượng Mỹ thắng quân đội Trung Quốc. Do đó, tôi tin rằng những điểm không chắc chắn này sẽ khiến Việt Nam tiếp tục thận trọng trong lập trường ngoại giao, ưu tiên giữ trung lập giữa Washington và Bắc Kinh để bảo vệ tương lai của mình.
    RFI : Thỏa thuận được gọi là “Thỏa thuận hòa bình” giữa Thái Lan và Cam Bốt được ký kết dưới sự bảo trợ của tổng thống Mỹ Donald Trump. Sự kiện này cho thấy mức độ ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nhưng liệu kiểu ảnh hưởng đó, dưới sự đe dọa về hậu quả kinh tế, có bền vững hay không ?
    Laurent Gédéon : Chính sách của chính quyền Trump nhìn chung được coi là tương đối khó đoán, điều này làm suy yếu niềm tin vào tính ổn định chiến lược của Hoa Kỳ. Về thỏa thuận do Donald Trump, thủ tướng Thái Lan và thủ tướng Cam Bốt cùng ký, mặc dù được mô tả là một “thỏa thuận hòa bình”, nhưng nó giống với một thỏa thuận ngừng bắn hơn, bởi vì không giải quyết được vấn đề cốt lõi, liên quan đến tranh chấp biên giới giữa hai nước.
    Đọc thêmChính sách thuế của Trump cản trở chiến lược « xoay trục sang châu Á » của Mỹ
    Đúng là Donald Trump tự nhận là đóng vai trò quan trọng trong quá trình này, nhất là bằng cách đe dọa đình chỉ các cuộc đàm phán thương mại với cả hai nước và tăng thuế quan. Điều này diễn ra trong bối cảnh Cam Bốt lúc đó chịu mức thuế 49% và Thái Lan 36%. Rõ ràng là áp lực của Mỹ đã thúc đẩy cả hai bên tạm ngừng giao tranh nhưng không chấm dứt được xung đột. Hơn nữa, hai quốc gia khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tạm thời tranh chấp : Malaysia, quốc gia giữ chức chủ tịch ASEAN năm 2025, và Trung Quốc. Cả Kuala Lumpur và Bắc Kinh đều gây áp lực để ngăn chặn xung đột leo thang, bởi vì sẽ đi ngược lại lợi ích của họ.
    Do đó, sáng kiến ​​của Mỹ quan trọng nhưng cần được xem xét dưới góc độ hai hạn chế sau đây : Thứ nhất, đây không phải là một giải pháp dứt điểm cho xung đột, mà chỉ là một thỏa thuận ngừng bắn ; Thứ hai, điều đó chỉ có thể thực hiện được nhờ hành động phối hợp, dù kín đáo, của hai quốc gia khác. Và đó chính là cách mà các nước trong khu vực nhìn nhận và phân tích.
    RFI : Philippines giữ chức chủ tịch luân phiên ASEAN năm 2026. Manila có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc, cùng với cam kết của Mỹ, về vấn đề Biển Đông. Chúng ta có thể kỳ vọng những diễn biến nào trong năm 2026 ?
    Laurent Gédéon : Đúng là rất khó để dự đoán tương lai. Nhưng những yếu tố hiện có cho thấy Philippines, quốc gia đã xích lại gần hơn đáng kể với Mỹ kể từ khi ông Ferdinand Marcos Jr. lên nắm quyền vào năm 2022, có thể sẽ tìm cách thúc đẩy một động thái cứng rắn hơn, hoặc thậm chí là cưỡng chế, đối với Trung Quốc.
    Ví dụ, Philippines có thể sẽ cố gắng khôi phục việc xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) ở Biển Đông. Dự án này có từ năm 2002 nhưng chưa bao giờ thành hiện thực, chủ yếu là do Trung Quốc thiếu hành động. Chính quyền Manila cũng có thể cố gắng đạt được sự lên án rõ ràng đối với các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông, điều mà ASEAN chưa từng làm cho đến nay. Tuy nhiên, Philippines sẽ phải tính đến việc các nước thành viên ASEAN có mức độ quan hệ khác nhau với Trung Quốc, điển hình như các nước Cam Bốt, Thái Lan và Miến Điện sẽ cố gắng làm giảm nhẹ bất kỳ sáng kiến ​​nào của nước chủ tịch ASEAN mà họ coi là không thân thiện, hoặc quá không thân thiện với Trung Quốc.
    Đọc thêmPhilippines-Mỹ-Nhật diễn tập tại Biển Đông, Trung Quốc kêu gọi Manila ngừng khiêu khích
    Một điểm đáng chú ý khác, có thể sẽ được quan tâm trong năm 2026, liên quan đến Đài Loan và khả năng Trung Quốc tiến hành hành động quân sự nhắm đến hòn đảo. Nếu kịch bản này xảy ra và Mỹ can thiệp, Philippines sẽ ở tuyến đầu, thậm chí có thể là một bên tham chiến. Trong giả thuyết này, câu hỏi đặt ra là về khả năng hành động và mức độ chủ động của Philippines trong ASEAN, bởi vì Philippines vừa là một bên tham gia xung đột vừa giữ chức chủ tịch ASEAN. Do đó, năm 2026 chắc chắn sẽ có rất nhiều biến động và cần được theo dõi sát sao.
    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon.
  • 2025 : Một năm cải cách, bất trắc để Việt Nam khởi động "kỷ nguyên mới"?

    29/12/2025
    Năm 2025 khép lại với hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII ngày 22-23/12 và khả năng ông Tô Lâm tiếp tục làm tổng bí thư, theo nguồn tin của Reuters. Năm 2025 cũng đánh dấu nhiều kỷ lục về kim ngạch thương mại, số lượt du khách nước ngoài đến Việt Nam ; tăng trưởng “sáng nhất trong khu vực” Đông Nam Á, tinh gọn bộ máy hành chính. Bên cạnh đó là những thiệt hại khủng khiếp do thiên tai, ô nhiễm môi trường.
    RFI Tiếng Việt điểm lại một số sự kiện quan trọng tại Việt Nam năm 2025.
    Tổng bí thư tập trung quyền lực trong nước
    Tại hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, các đại biểu nhất trí ủng hộ những chính sách được tổng bí thư Tô Lâm thúc đẩy. Ông Tô Lâm trở thành người thi hành được nhanh chóng “cuộc cách mạng chống quan liêu” được ấp ủ từ lâu. Thành công này cũng cho thấy quyền lực cá nhân của ông Tô Lâm và những chiến lược tập trung quyền lực đằng sau, theo nhận định của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp, khi trả lời RFI Tiếng Việt ngày 04/07/2025 :
    “(…) Nếu một cuộc cải cách đầy tham vọng như vậy được thực hiện bởi một người duy nhất thì đó là do ông ấy không cảm thấy bị bất kỳ ai đe dọa và điều này nằm trong quyền lực to lớn của ông trong bộ máy chính trị Việt Nam. Vào đúng năm trước Đại hội Đảng, với cuộc tinh giản bộ máy hành chính ở cấp địa phương, nhưng cũng có thể nói là ở cấp trung ương, ở cấp bộ, không ai chắc chắn là giữ được vị trí của mình, kể cả trong Ban Chấp hành Trung ương. Số người may mắn được chọn sẽ ít hơn vào năm 2026. Có thể nói chiến dịch kiểm soát khổng lồ này thậm chí còn hiệu quả hơn các chiến dịch chống tham nhũng thông thường. Bởi vì chúng khiến mọi người run sợ, ai cũng muốn giữ lấy chỗ và có thể theo đuổi sự nghiệp trong một bộ máy hành chính bị thu hẹp lại”.
    Đọc thêmSáp nhập tỉnh, thành 2025 : Chiến lược tập quyền và thành công cá nhân của TBT Tô Lâm
    Mở rộng vai trò của tổng bí thư trên trường quốc tế
    Trong hơn một năm giữ chức tổng bí thư, ông Tô Lâm có lẽ là lãnh đạo đảng công du nước ngoài nhiều nhất, thăm hơn 20 nước, ký nhiều thỏa thuận nâng cấp quan hệ đối tác. Tổng bí thư không chỉ còn muốn đứng đầu đảng, giữ vai trò về tư tưởng, mà là một nhà lãnh đạo cao nhất. Và ông Tô Lâm đang làm cho các đối tác phương Tây quen dần với hình ảnh này, theo nhận định của tiến sĩ Vũ Khang, Đại học Boston, Mỹ :
    “Việt Nam đã đặt các đối tác phương Tây vào vị trí phải công nhận tính chính danh và sự ngang hàng của vị trí tổng bí thư với các vị trí nguyên thủ quốc gia qua các cuộc gặp cấp cao. Đây cũng là một di sản của cố tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi ông đã thành công bắt Mỹ phải công nhận tổng bí thư là ngang hàng với chức tổng thống Mỹ. Điều này chứng tỏ đây là một chính sách đường dài chứ không phải ngắn hạn cho kỳ Đại hội Đảng sắp tới, và dù ai ở vị trí tổng bí thư đi chăng nữa thì cũng sẽ được kế thừa di sản này”.
    Đọc thêmNâng cấp đối tác chiến lược toàn diện với Pháp, chủ tịch Tô Lâm muốn thể hiện năng lực ngoại giao, ổn định chính trị Việt Nam
    Mối quan hệ đặc biệt với Pháp được thể hiện qua chuyến công du Hà Nội của tổng thống Emmanuel Macron. Với 14 thỏa thuận trị giá 9 tỷ euro, Pháp muốn hiện diện mạnh mẽ tại Việt Nam, kể cả trong lĩnh vực quốc phòng. Giáo sư Pierre Journoud, Đại học Paul Valery - Montpellier 3, đánh giá :
    “Có thể nói ngắn gọn rằng bối cảnh hiện nay thuận lợi cho việc Việt Nam và Pháp xích lại gần hơn trong lĩnh vực quốc phòng. Pháp là nước xuất khẩu vũ khí lớn thứ hai thế giới vào năm 2024, cho nên có một số tham vọng chính đáng ở khu vực Đông Nam Á. Còn Việt Nam đã tổ chức triển lãm quốc phòng quốc tế lần thứ hai tại Hà Nội vào tháng 12/2024. Việt Nam bắt đầu đa dạng hóa việc mua vũ khí và trang thiết bị quân sự để bù đắp cho những thiếu hụt thực sự, hoặc được cho là như vậy, của nhà cung cấp Nga, vốn chiếm ưu thế ở Việt Nam”.
    Kim ngạch thương mại lập kỷ lục, bất chấp thuế đối ứng của Mỹ
    Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam lập kỷ lục, đạt 920 tỷ đô la, tăng 16,9% so với năm 2024, theo Tổng Cục Hải quan. Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp hàng hóa lớn nhất cho Việt Nam, đạt kim ngạch 183 tỷ đô la. Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, đạt mốc kỷ lục gần 152 tỷ đô la, bất chấp các biện pháp thuế đối ứng (20%) của tổng thống Donald Trump.
    Tuy vậy, trả lời RFI Tiếng Việt, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng mức thuế 20% vẫn bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam, so với một số nước khác được mức thuế 19% hoặc 15% :
    “Theo tôi, những mặt hàng bị tác động bao gồm may mặc, da giày, kể cả một số mặt hàng đồ gỗ. Nếu như tình hình tiếp tục như thế này, các nhà xuất khẩu Việt Nam sẽ phải tìm cách đa dạng hóa các thị trường và tìm các biện pháp để có thể tiếp tục duy trì sản xuất và xuất khẩu và tìm cách né tránh thuế 20% này. Hiện nay Việt Nam đang cố gắng tìm cách mở rộng thị trường ở Trung Đông và tìm kiếm những thị trường ở châu Phi, đồng thời muốn phát triển những thị trường khác tuy nhỏ nhưng hy vọng là sẽ vẫn có thể đón nhận được hàng hóa của Việt Nam một cách thuận lợi”. 
    Đọc thêmViệt Nam: Thuế "trung chuyển" của Mỹ gây khó khăn cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài
    Thặng dự thương mại (đạt 21,2 tỷ đô la) chủ yếu đến từ khối đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với 48,2 tỷ đô la bởi vì các doanh nghiệp trong nước thâm hụt thương mại hơn 27 tỷ đô la. Mức thuế 20% có thể khả thi cho hoạt động xuất khẩu của các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, thuế “trung chuyển” (transshipment) lên tới 40% mới là vấn đề khó khăn. Ông Jean-Jacques Bouflet, phó chủ tịch Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam - EuroCham, giải thích với RFI Tiếng Việt ngày 08/08 :
    “Theo thuật ngữ hải quan Hoa Kỳ, “trung chuyển” không chỉ đơn giản là dỡ hàng từ một phương tiện vận chuyển hay từ một hình thức vận chuyển này sang một phương tiện hoặc hình thức vận chuyển khác, mà chủ yếu là sự thay đổi nguồn gốc ở nước cuối cùng. Nói cách khác, nếu quyết định đánh thuế hàng “trung chuyển” được sử dụng để áp đặt một hàm lượng nội địa tối thiểu đáng kể, thì có nghĩa là để ngăn chặn nhập khẩu nguyên liệu từ các nước thứ ba, ý tôi muốn nói ở đây là Trung Quốc chẳng hạn. Đây có lẽ sẽ là một vấn đề lớn đối với phần lớn lĩnh vực sản xuất của Việt Nam (…) bởi vì hiện tại, Việt Nam không thể bảo đảm sản xuất được 100% hoặc 80% sản lượng nội địa, có thể là trừ sản xuất nông nghiệp”.
    Mục tiêu tăng trưởng 10% năm 2026 khó đạt được vì khó khăn toàn cầu
    Với tổng kim ngạch thương mại năm 2025 đạt 920 tỷ đô la, Việt Nam gia nhập nhóm 25 nền kinh tế thương mại lớn nhất thế giới. Sau mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) khoảng 8%, chính phủ đề ra mục tiêu tăng trưởng 10% cho năm 2026. Ông Hubert Testard, chuyên gia về châu Á, tổng biên tập báo mạng Asialyst, cho rằng “mục tiêu này lại quá lạc quan, rất tham vọng” :
    “Trước tiên là mức thuế quan trung bình 20% của Mỹ mà ai cũng biết, nhưng cũng phải kể đến nhiều mức thuế đặc biệt khác đối với ô tô, thép, nhôm. Gần đây, còn có một vấn đề khác đối với các nhà xuất khẩu thủy sản Việt Nam, với thông báo ngừng xuất khẩu một số mặt hàng vào năm 2026. Ngoài ra, bối cảnh chung ở một số nước khác cũng không đặc biệt hơn. Nghĩa là nhu cầu của Trung Quốc không mạnh lắm, châu Âu thì đang cố gắng hạn chế dòng hàng nhập khẩu từ châu Á, đặc biệt là từ Trung Quốc. Vì vậy, bối cảnh quốc tế sẽ kém thuận lợi hơn. Tất cả các tổ chức quốc tế đều dự đoán năm 2026 sẽ có mức tăng trưởng kém hơn một chút so với năm 2025”.
    Đọc thêm2026 : Bối cảnh quốc tế không thuận lợi cho mục tiêu tăng trưởng 10% của Việt Nam
    Mục tiêu tăng trưởng cũng có thể bị tác động vì thiệt hại do thiên tai, ô nhiễm môi trường. Theo Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, năm 2025 đã đi vào lịch sử thiên tai Việt Nam với những kỷ lục chưa từng có ; thiệt hại kinh tế lên tới hơn 100.000 tỷ đồng (gần 4 tỷ đô la) - lớn nhất từ trước tới nay. Theo Kế hoạch Ứng phó thiên tai chung năm 2025, được Liên Hiệp Quốc xây dựng trên cơ sở hợp tác giữa chính phủ Việt Nam và các đối tác trong nước, quốc tế, khoảng 96,2 triệu đô la được huy động để đáp ứng nhu cầu nhân đạo, hỗ trợ cho người dân bị ảnh hưởng, đồng thời xây dựng lộ trình hướng tới khả năng phục hồi và thích ứng với  biến đổi khí hậu trong dài hạn.
    Giải quyết ô nhiễm môi trường : Vấn đề cấp bách
    Một vấn đề khác là tình trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam, khiến khoảng 70.000 người chết. Để giảm bớt “thành tích” nhiều lần đứng đầu danh sách “đô thị ô nhiễm nhất thế giới”, thành phố Hà Nội triển khai lộ trình cấm xe chạy xăng dầu, bắt đầu trong vành đai 1 (trung tâm) Hà Nội, kể từ ngày 01/07/2026. Song song với biện pháp triệt để này, nhà quy hoạch đô thị Basile Hassan, trưởng dự án Moov’Hanoi, Cơ quan hỗ trợ Hợp tác quốc tế Vùng Paris tại Việt Nam - PRX-Vietnam, cho rằng cần phát triển, nâng cấp hệ thống giao thông công cộng để người dân có nhiều lựa chọn :
    “Mạng lưới giao thông công cộng hiện tại không đáp ứng được nhu cầu của người dân. Hà Nội có tàu điện nhưng lại không đủ, thậm chí còn không đi đến trung tâm thành phố. Trong bối cảnh người dân chủ yếu sử dụng xe máy, rất cạnh tranh về mặt thời gian, đi từ điểm A đến điểm B mà không phải thay đổi phương tiện, cho nên giao thông công cộng có vẻ kém cạnh tranh hơn vì mất thời gian hơn so với xe máy, phải nối chuyến, phải đi đến các bến. Vì vậy về mặt thời gian và hiệu quả, phương tiện công cộng kém hấp dẫn hơn xe máy, được ưa chuộng ở Hà Nội”.
    Đọc thêm“Xanh hóa” giao thông Hà Nội: Cần bỏ ôtô cá nhân thể hiện “thành đạt” và kết nối hệ thống công cộng
    Việt Nam đón gần 22 triệu lượt du khách nước ngoài
    Cho dù trải qua một năm thiên tai, nhiều di tích, công trình bị ngập trong mưa lũ, Việt Nam ghi nhận số lượng du khách nước ngoài kỷ lục, gần 22 triệu lượt. Mục tiêu đặt ra cho năm 2026 là thu hút 25 triệu du khách quốc tế. Ngoài việc chú trọng vào dịch vụ chăm sóc khách hàng, chi phí không quá đắt, thì kéo dài thời gian miễn thị thực đối với nhiều nước được cho là một yếu tố quan trọng, theo giải thích với RFI Tiếng Việt của ông Nguyễn Xuân Hải, giám đốc của La Palanche Voyages :
    “Bây giờ khi được 45 ngày, có thể người ta đến Việt Nam chỉ 15 ngày thôi, nhưng người ta có thể tiến, lùi ngày để có được vé máy bay tốt hơn, phù hợp với khả năng chi trả của người ta hơn. Miễn visa 45 ngày là cả một bước đột phá lớn (...) Nay có đến 45 ngày miễn visa, giống như là chúng ta đang “thừa giấy vẽ voi”. Chúng tôi sẽ có thể vẽ ra những con voi rất sinh động, đưa được khách đến những vùng xa hơn, sâu hơn, đến những nơi mà theo chúng tôi còn nguyên bản hơn”.
    Đọc thêmDu lịch Việt Nam: Đà phục hồi bị ảnh hưởng bởi yếu tố kinh tế, địa chính trị

About Tạp chí Việt Nam

Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
Podcast website
Social
v8.3.1 | © 2007-2026 radio.de GmbH
Generated: 1/27/2026 - 2:27:55 PM